Xét nghiệm hơi thở ure 13C: “Tiêu chuẩn vàng” để phát hiện nhiễm khuẩn Helicobacter pylori

Viết bởi Đỗ Thị Phương Thảo vào

Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Nghiêm Luật - Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Đa khoa Medlatec.

Máy định danh vi khuẩn HP qua hơi thở công nghệ C13 HGIR-force

   Helicobacter pylori (H.pylori hoặc HP) được thấy ở khoảng một nửa dân số thế giới. Tần suất của H.pylori phụ thuộc vào vùng địa lý, dân tộc, lứa tuổi và các yếu tố kinh tế xã hội: cao ở các nước đang phát triển và thấp hơn ở các nước phát triển. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tần suất H.pylori có xu hướng giảm ở nhiều vùng của trái đất (theo World Gastroenterology Organization, 2010).

   H.pylori là loại vi khuẩn không chỉ gây nên viêm dạ dày, viêm tá tràng và loét dạ dày ở người mà còn là yếu tố gây bệnh do vi khuẩn quan trọng nhất có liên quan với ung thư dạ dày thể tuyến (gastric adenocarcinoma) và các u lympho của mô lympho liên quan với màng nhày (mucosa-associated lymphoid tissue lymphomas: MALT) ThemeSyntaxError[Illegal template name template_1].

   Xét nghiệm hơi thở ure 13C, còn gọi là xét nghiệm hơi thở ure 13C (13C-urea breath test: UBT) là  kỹ thuật không xâm lấn (non-invasive) ThemeSyntaxError[Illegal template name template_1], dựa trên nguyên tắc là: enzyme urease không có trong các tế bào của động vật có vú và các type vi khuẩn khác không thấy có trong dạ dày, nếu có urease thì chứng tỏ có H.pylori trong dạ dày bệnh nhân. Ure với nguyên tử Carbon (C) ghi dấu 13C sẽ nhanh chóng bị thủy phân bởi enzym urease của H.pylori thành anion bicarbonate H13CO3- và cation amoni NH4+theo phản ứng:

Urease (từ H.pylori)

13CO(NH2)2 + 2H20 + H+ → H13CO3- + 2NH4+

   Bicarbonate H13CO3- giải phóng sẽ được hấp thụ qua lớp dịch của dịch dạ dày vào máu tuần hoàn, về phổi và tạo thành 13CO2 theo phản ứng:

H13CO3- + H+13CO2 + H2O

  13CO2 sinh ra được bài xuất qua hơi thở sẽ được thu lại vào một túi nilon rồi được đưa vào dung dịch hấp thu. Sau đó, 13CO2 trong dung dịch này sẽ được đo bởi máy phổ khối (mass spectrometer) hoặc máy phổ hồng ngoại (Infrared Spectrometer). NH4+ sinh ra và ure13C còn thừa chưa phản ứng sẽ được hấp thu vào máu và bài tiết qua thận ra nước tiểu. Như vậy, việc đo 13CO2 trong hơi thở cho phép phát hiện bệnh nhân hiện có đang bị nhiễm H.pylori hay không (Hình 1).

Hình 1. Nguyên tắc xét nghiệm ure13C qua hơi thở.

   Các xét nghiệm hơi thở ure 13C và 14C đều được xem là “tiêu chuẩn vàng” (gold standard) để phát hiện nhiễm H. pylori, tuy nhiên, 2 xét nghiệm này có một số khác biệt như sau:

-Về đồng vị C được sử dụng: 13C là C không phóng xạ (non-radioactive carbon-13), trong khi 14C là carbon phóng xạ (radioactive carbon-14)

-Về máy đo: 13C có thể được phát hiện bởi máy phổ khối có liên hệ với đồng vị (isotope ratio mass spectrometry) hoặc bởi máy quang phổ có liên hệ với khối phổ (mass correlation spectrometry), trong khi 14C được đo bởi máy đếm nhấp nháy (scintillation).

-Về độ an toàn: test hơi thở 13C không phóng xạ nên không có chống chỉ định ở phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và trẻ em ở các lứa tuổi, còn 14C là chất phóng xạ (mặc dù với liều rất thấp), cần cân nhắc, không nên sử dụng ở người già, trẻ em (dưới 12 tuổi), phụ nữ có thai (dưới 8 tuần tuổi) hoặc đang cho con bú.

1.Chỉ định:

   Xét nghiệm hơi thở ure 13C có thể được chỉ định để sàng lọc các bệnh nhân có biểu hiện rối loạn  dạ dày trước khi nội soi và để đánh giá hiệu quả điều trị loại trừ H.pylori:

  1. Xét nghiệm hơi thở ure 13C có thể được chỉ định trước khi nội soi để phát hiện nhiễm pylori ở các bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như:
    • Đau vùng thượng vị
    • Đầy hơi
    • Ợ chua
    • Khó tiêu
    • Buồn nôn, …
  2. Xét nghiệm hơi thở ure 13C còn được chỉ định sau điều trị ít nhất 1 tháng để đánh giá hiệu quả của điều trị diệt pylori bằng kháng sinh, thuốc ức chế bơm proton, mà có thể không cần phải nội soi dạ dày để sinh thiết làm test urease hoặc các xét nghiệm xâm lấn khác.

Chú ý: xét nghiệm hơi thở ure 13C sẽ không chính xác khi:

  • Về tương tác thuốc, kết quả xét nghiệm 13C urea có thể không chính xác khi sử dụng các kháng sinh trong vòng 4 tuần hoặc thuốc ức chế bơm proton khoảng 1 tuần trước khi thực hiện xét nghiệm này.
  • Về sự quá liều: hàm lượng urea 13C chứa trong kit với hàm lượng 5g/ lọ, chứa ure 13C 75 mg, chỉ bằng khoảng 0,25% lượng được sản xuất hàng ngày trong cơ thể người nên không sợ quá liều.
  • Sau khi uống, urea 13C nhanh chóng được hấp thu và sự hấp thu đạt cực đại đạt được ở phút thứ 6, sau đó được loại trừ nhanh khỏi cơ thể với thời gian bán hủy là 5,15 giờ, qua đường thận - nước tiểu.
  • Các thuốc kháng sinh, thuốc ức chế bơm H+ và thuốc đối kháng thụ thể H2 (H2-antagonists, ví dụ như cimetidin, ranitidin, famotidin và nizatidin, được dùng để ức chế bài tiết acid dạ dày) có thể làm xét nghiệm hơi thở ure 13C (-) tính giả.

2. Tiến hành:

  • Xét nghiệm hơi thở ure 13C cần được thực hiện trong điều kiện đói, ít nhất 4 giờ sau khi ăn .
  • Ghi đầy đủ các thông tin cần thiết vào nhãn trên 2 chiếc túi để chứa khí
  • Thở chậm vào 1 chiếc túi đầu tiên đến mức đầy nhất có thể. Nhanh chóng buộc chặt túi khí. Đây là túi khí nền (t=0’).
  • Hòa tan những hạt nhỏ ure 13C trong 80-100 mL nước mát, uống và đợi trong 30 phút.
  • khi đến giờ, lấy mẫu hơi thở thứ 2 (t=30’) giống như ở bước
  • Đo 13C trong CO2 (13C-CO2) sinh ra trong 2 túi bằng máy quang phổ hồng ngoại 13C HGIR-force 500.
  • Sử dụng ký hiệu khác nhau một phần nghìn δ0/00 (millesimal difference) để xác định kết quả. δ0/00 được xác định bằng công thức sau:

δ0/00 = ThemeSyntaxError[Illegal template name template_1] : 1000

  • Giá trị xác định pylori (+) tính:

   Để chẩn đoán nhiễm H. pylori, người ta sử dụng sự khác nhau của δ0/00 của đo được của mẫu

13C-CO2 ở t = 30 phút và δ0/00 của đo được của mẫu 13C-CO2 ở t = 0 phút.

Giá trị đo được gọi là Delta Over Base (DOB) = δ0/00 (30 phút) - δ0/00 (0 phút).

Khi giá trị DOB là ) ≥4,0 ± 0,4 thì được xem là H. pylori (+) tính.

3.Ý nghĩa lâm sàng:

   Xét nghiệm hơi thở ure 13C có thể được sử dụng an toàn ở tất cả các lứa tuổi, kể cả trẻ em, người già, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

   Một xét nghiệm kháng nguyên trong phân, một xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc sinh thiết, … (+) tính thể hiện rằng sự đau dạ dày ở bệnh nhân có thể viêm loét không do acid của dạ dày (apeptic) mà do H. pylori. Việc kết hợp điều trị bằng một số kháng sinh, thuốc ức chế bơm proton, … có thể tiêu diệt các vi khuẩn, ngăn chặn cơn đau và chống viêm loét.

   Một xét nghiệm máu kháng thể chống H. pylori (+) tính chỉ chứng tỏ có sự nhiễm H. pylori hiện tại hoặc trước đó, muốn xác định chắc chắn xem liệu có phải bệnh nhân đang bị nhiễm H. pylori hay không, cần phải làm thêm xét nghiệm hơi thở ure 13C.

   Kết quả xét nghiệm (-) tính có thể do bệnh nhân không bị nhiễm H. pylori, còn triệu chứng lâm sàng của họ có thể là do nguyên nhân khác. Tuy nhiên, nếu các triệu chứng không giảm, không nên loại trừ nhiễm H. pylori mà nên làm thêm xét nghiệm khác, chẳng hạn như tìm kháng nguyên H. pylori trong phân (stool antigen test: HpSA) hoặc nuôi cấy, nếu cần.

   Việc sử dụng nhắc lại xét nghiệm hơi thở ure 13C để đánh giá hiệu quả điều trị cần được thực hiện ít nhất một tháng sau khi kết thúc đợt điều trị.

4. So sánh khả năng phát hiện H.pylori của các phương pháp khác nhau:

   Trong những năm gần đây, một số phương pháp xét nghiệm phát hiện H.pylori đã được sử dụng trong thực tế lâm sàng, trong số đó phần nhiều là các phương pháp xâm lấn:

  • Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14
  • Định lượng các kháng thể kháng pylori IgM và IgG trong huyết tương.
  • Định lượng kháng nguyên của pylori trong phân bằng kỹ thuật miễn dịch enzym (enzyme immunoassay: EIA) hoặc sắc ký miễn dịch (immunochromatographic assay: ICA).
  • Xét nghiệm urease nhanh từ các mảnh sinh thiết mô vùng viêm loét dạ dày.
  • PCR: xác định các đột biến điểm (point mutations) trên gen 23S rRNA của pylori bằng real- time PCR từ mô dạ dày bị nhiễm.
  • Kiểm tra giải phẫu bệnh (Histopathological examination) từ các mảnh sinh thiết mô vùng viêm loét dạ dày.
  • Xét nghiệm nuôi cấy pylori từ mô dạ dày bị nhiễm.

   Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo (+) tính, giá trị dự báo (-) tính và độ chính xác của 7 loại xét nghiệm được sử dụng để phát hiện H.pylori từ nhiều công trình nghiên cứu ThemeSyntaxError[Illegal template name template_1] được thể hiện ở Bảng 1.

T T

Các loại xét nghiệm phát hiện H.Pylori

Độ nhạy (%)

Độ đặc hiệu (%)

Giá trị dự báo (+) tính (%)

Giá trị dự báo (-) tính (%)

Độ chính xác (%)

Tài liệu tham khảo

1

Hơi thở ure 13C Hơi thở ure 14C

96,5

96,6

97,7

100

98,2

100

95,6

93,7

97,0

97,7

4

8

2

Urease nhanh

89,8

100

100

83,3

93,2

4

3

PCR

93,2

63,3

83,3

82,6

83,1

4

4

Giải phẫu bệnh

93,2

76,6

88,7

85,1

87,6

4

5

Huyết thanh học:

-IgM

-IgG

 

4,4

46,2

 

93,4

45,2

 

9,0

20,6

 

87,0

96,2

 

82,2

52,0

 

6

6

6

Phân (antigen):

-EIA

-ICA

 

95,2

83,8

 

87,0

90,9

 

90,4

92,2

 

93,1

81,4

 

91,5

86,9

 

9

9

7

Nuôi cấy

91,5

100

100

95,9

97,2

2

Bảng 1Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị chẩn đoán (+) tính, giá trị chẩn đoán (-) tính và độ chính xác của các loại xét nghiệm H.pylori.

   Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, xét nghiệm hơi thở ure 13C là xét nghiệm sử dụng để phát hiện sự nhiễm H.pylori có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo (+) tính, giá trị dự báo (-) tính và độ chính xác cao hơn so với các xét nghiệm để phát hiện sự nhiễm H.pylori khác.

KẾT LUẬN

  • Xét nghiệm hơi thở ure 13C là một kỹ thuật không xâm lấn, được xem như “tiêu chuẩn vàng”, được chỉ định trước nội soi để phát hiện sự nhiễm pylori, đồng thời còn được chỉ định sau điều trị kháng sinh ít nhất một tháng để đánh giá hiệu quả điều trị.
  • Xét nghiệm hơi thở ure 13C có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo (+) tính, giá trị dự báo (-) tính và độ chính xác cao hơn so với các xét nghiệm để phát hiện sự nhiễm pylori khác.
  1. So với xét nghiệm hơi thở ure 14C, xét nghiệm ure C 13C có độ chính xác tương đương nhưng vì 13C không có tính phóng xạ như 14C nên có thể sử dụng an toàn hơn, đặc biệt là ở phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, người già và trẻ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hegedus O, Rydén J, Rehnberg AS, et al. Validated accuracy of a novel urea breath test for rapid Helicobacter pylori detection and in-office analysis. Eur J Gastroenterol Hepatol 2002 May; 14(5): 513-520.
  • Lee HC, Huang TC, Lin CL. Performance of Routine Helicobacter pylori Invasive Tests in Patients with Dyspepsia. Gastroenterol Res Pract 2013; (in press).
  • Logan RPH. Urea breath test in management of Helicobacter pylori Gut 1998; 43(Suppl 1): S47-S50.

4.Özdemir E, Karabacak NI, Dursun A, et al. Could the 14C Urea breath test be a new standard in noinvasive diagnosis of Helicobacter pylori infection? Ann Nucl Med 2008; 22: 611-616.


  • Savarino V, Vigneri S, and Celle G. The 13C urea breath test in the diagnosis of Helicobacter   pylori Gut 1999; 45: 118-122.
  • She RC, Wilson AR, Litwin CM. Evaluation of Helicobacter pylori Immunoglobulin G (IgG), IgA, and IgM serologic testing compared to stool antigen testing. Clin Vaccine Immunol 2009 Aug; 16(8): 1253-1255.
  • Stryznska T, and Malferheiner Helicobacter pylori and digestive malignancies. Helicobacter 2006;

11: 32-35.

  • Wong WM, Wong BCY, Wong KWW, et al. 13C-urea breath test without a test meal is highly accurate for the detection of Helicobacter pylori infection in Chinese. Aliment Pharmacol Ther 2000; 14: 1353-1358.
  • Wu DC, Wu IC, Wang SW, et al. Comparison of stool enzyme immunoassay and immunochromatographic method for detecting Helicobacter pylori antigens before and after eradication. Diagn Microbiol Infect Dis 2006 Dec; 56(4): 373-378.

*Hiện nay, xét nghiệm hơi thở ure 13C đang được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC trên máy Quang phổ hồng ngoại 13C HGIR-force 500, góp phần quyết định vào việc phát hiện H.pylori trước và sau điều trị.


Bài Viết Mới

0 comments

Để lại bình luận

params.svg
Panel Tool
Float header
Float topbar
Default Boxed Large